Nhiên liệu sinh học ở Việt Nam

From www.entrepreneurstoolkit.org

Jump to: navigation, search

Nhiên liệu sinh học (NLSH) là loại nhiên liệu có nguồn gốc từ các vật liệu sinh học như các loại thực vật (lúa mỳ, ngô, đậu tương, sắn,…), chất béo động thực vật (mỡ động vật, dầu mè…), chất thải trong nông nghiệp (rơm rạ, trấu, chất thải vật nuôi…), sản phẩm thải trong công nghiệp (mùn cưa,…). NLSH có thể chia làm các loại:

- Cồn sinh học: được sản xuất từ quá trình lên men các sản phẩm hữu cơ như đường, tinh bột, xenlulo… Sử dụng phổ biến nhất hiện nay là etanol sinh học. Etanol được pha thêm các chất biến tính để sử dụng cho xe cơ giới.

- Dầu điêzen sinh học: là loại nhiên liệu được sản xuất từ dầu, mỡ động thực vật, có tính chất tương đương với điêzen truyền thống. Điêzen sinh học có thể sử dụng dưới dạng nguyên chất (B100) hoặc pha với dầu điêzen truyền thống để chạy động cơ điêzen.

- Khí sinh học: được tạo ra từ quá trình lên men các vật liệu hữu cơ, sản phẩm tạo thành ở dạng khí, có thể dùng làm nhiên liệu đốt cháy thay cho khí đốt từ sản phẩm dầu mỏ.

Trên thị trường xăng dầu hiện nay, loại nhiên liệu lưu thông chính là E5 (là loại nhiên liệu pha trộn 95% xăng dầu mỏ truyền thống với 5% etanol biến tính) và B5 (95% điêzen dầu mỏ truyền thống pha với 5% B100).

Contents

Tiềm năng về sản xuất nhiên liệu sinh học ở Việt Nam

Việt Nam có nhiều tiềm năng về NLSH có thể làm nhiên liệu thay thế cho xăng dầu có nguồn gốc dầu mỏ. Nhiều loại cây như sắn, ngô, mía,... có thể sản xuất cồn sinh học mà ở Việt Nam lại có nhiều vùng đất rất thích hợp với các loại cây trồng này. Sản lượng sắn cả nước năm 2007 là hơn 7 triệu tấn, mía đường hơn 14 triệu tấn và ngô gần 4 triệu tấn. Với sản lượng này có thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất cồn sinh học ở quy mô vừa và nhỏ. Ước tính Việt Nam có thể sản xuất 5 triệu lít cồn sinh học mỗi năm nếu như có sự điều chỉnh về sản lượng và diện tích cây trồng. Về sản xuất điêzen sinh học có thể đi từ các loại dầu thực vật và mỡ động vật. Ở Việt Nam, các loại cây trồng tiềm năng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất điêzen sinh học như cây cọc rào, dầu cọ, hạt bông,... Điều kiện đất đai và khí hậu Việt Nam cho phép hình thành những vùng nguyên liệu tập trung. Mỡ cá, dầu thực phẩm thải được sử dụng cho sản xuất điêzen sinh học có thể giúp giải quyết được các vấn đề về môi trường trong chế biến thủy sản. Ước tính Việt Nam có thể sản xuất khoảng 500 triệu lít điêzen sinh học mỗi năm nếu như tổ chức quy hoạch và thực hiện vùng nguyên liệu theo hướng sử dụng đất triệt để, tạo ra nhiều loại giống có sản lượng cao và sở hữu các công nghệ tách dầu từ nguyên liệu.

Các dự án về nhiên liệu sinh học

Nhận thấy được tiềm năng của thị trường Việt Nam về NLSH, các cơ quan, tổ chức của nhà nước cũng như các công ty tư nhân đã có các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất NLSH. Các công ty nước ngoài cũng đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm các đối tác đầu tư trong nước.

1. Các dự án của Petro Vietnam

Etanol 5.png

Là một doanh nghiệp lớn của Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của NLSH đối với vấn đề an ninh năng lượng, Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PetroVietnam) đã đưa ra "Kế hoạch và Chương trình triển khai các dự án NLSH đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025" (gọi tắt là Kế hoạch[1]) tháng 2-2009 với nội dung tổng quát gồm phát triển sản xuất, chế biến, kinh doanh và phân phối các loại NLSH. Thực hiện Kế hoạch này, trong thời gian qua, PetroVietnam đã phối hợp với các bộ ban ngành và các địa phương triển khai tốt công tác đầu tư xây dựng 3 nhà máy sản xuất cồn sinh học đặt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam với công suất mỗi nhà máy là 100.000 m³ cồn/năm. Trong đó, tập đoàn giao Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) trực tiếp làm chủ đầu tư 2 nhà máy ở tỉnh Phú Thọ và Bình Phước, còn tập đoàn trực tiếp làm chủ đầu tư Nhà máy Dung Quất ở Quảng Ngãi. Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy Sản xuất cồn nhiên liệu (Ethanol) tại Phú Thọ có số vốn 80 triệu USD, được xây dựng trên địa bàn huyện Tam Nông với diện tích hơn 50 ha, dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động trong cuối năm 2010. Vùng nguyên liệu trồng sắn và mía có diện tích 35.000ha đuợc đặt ngay tại Phú Thọ đủ để đảm bảo cho nhà máy hoạt động ổn định. Nhà máy Sản xuất Ethanol tại Bình Phước với tổng mức đầu tư trên 80 triệu USD, tiêu thụ khoảng 240.000 tấn sắn lát khô một năm. Sản phẩm của Nhà máy là ethanol biến tính sẽ được pha trộn với xăng của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để phân phối trên thị trường cả nước. Nhà máy đã được khởi công xây dựng tháng 3/2010 tại xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng do Công ty TNHH Nhiên liệu Sinh học Phương Đông (OBF) - thành viên PVOil - làm chủ đầu tư. Dự kiến thời gian xây dựng nhà máy là 21 tháng. Tháng 9/2010, Petro Vietnam đã tổ chức lễ khởi công xây dựng Nhà máy sản xuất Ethanol Dung Quất. Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 80 triệu USD, trên diện tích 24,62 ha, do Công ty Cổ phần Nhiên liệu Sinh học Dầu khí miền Trung (PCB) làm chủ đầu tư. Thời gian xây dựng nhà máy là 18 tháng. Đây là nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học có quy mô đầu tư lớn nhất miền Trung hiện nay, sử dụng công nghệ tiên tiến. Nhà máy sử dụng nguyên liệu sắn lát để sản xuất ethanol. Vùng nguyên liệu chủ yếu của nhà máy tại tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên.

2. Một số dự án khác Bên cạnh các nhà máy sản xuất Ethanol của Petro Vietnam, còn có nhiều các dự án sản xuất NLSH của các công ty khác đã được triển khai thực hiện. Điển hình là nhà máy sản xuất cồn sinh học - Nhà máy ethanol Đại Tân, đã được khánh thành và chính thức cung cấp xăng cho thị trường tháng 8/2010. Nhà máy có tổng vốn đầu tư khoảng 900 tỉ đồng đặt tại xã Đại Tân, huyện Đại Lộc, Quảng Nam do Công ty CP Đồng Xanh đầu tư. Với công suất của nhà máy là100.000 tấn ethanol/năm, nhà máy cần 300.000 tấn sắn khô mỗinăm. Ngoài ra sản phẩm phụ của nhà máy là CO2 có công xuất 20 ngàn tấn/năm và 40 ngàn tấn phân vi sinh/năm. Tháng 9/2009, nhà máy Ethanol Đại Tân đã sản xuất thử mẻ sản phẩm đầu tiên, từ tháng 4-6/2010 sản xuất 50% công xuất và từ tháng 7/2010 nhà máy đã chạy từ 60-70% công suất. Một số các dự án khác bao gồm: Dự án Sản xuất điêzen sinh học bằng cách trộn lẫn mỡ cá da trơn với điêzen để chạy động cơ điêzen (máy bơm nước, máy phát điện…) (2005-2007): Công ty xuất khẩu cá da trơn Agifish đã được chính phủ phê duyệt xây dựng 1 nhà máy ở An Giang năm 2007 và sản xuất khoảng 10 triệu lít nhiên liệu 1 năm. Công ty đã tiến hành các thử nghiệm từ 2006 trong phòng thí nghiệm ở thành phố Hồ Chí Minh và chứng minh rằng NLSH từ cá da trơn là rất tốt. Công ty đã sản xuất được 1 lít NLSH từ 1 kg dầu, mỡ cá nước ngọt và đã được sử dụng làm nhiên liệu để chạy máy bơm ở các trang trại cá của công ty. Nhiên liệu này sẽ được sử dụng cho động cơ điêzen ở thị trường trong nước. Dự án “Sử dụng gasohol cho các xe cơ giới trong thành phố” (2005-2007). Dự án nhằm khởi đầu một chương trình sử dụng gasohol cho các xe cơ giới ở thành phố Hồ Chí Minh, là một dự án thành phần của dự án “giảm thiểu ô nhiễm không khí thành phố”. Tập đoàn Saigon Petro, Công ty đồ uống Sài Gòn (SABECO) là đơn vị thực hiện dự án. UBND thành phố Hồ Chí minh là đơn vị hỗ trợ dự án. “Trộn lẫn dầu ăn với điêzen để tạo ra loại nhiên liệu rẻ hơn” (2005-2007). Dự án thử nghiệm 2 năm, dầu ăn được thu gom từ các nhà hàng, khách sạn và các nhà máy thực phẩm ở thành phố lớn nhất của Việt Nam, giúp giảm lượng ô nhiễm đi vào khu vực sông suối. Dự án do Trung tâm Công nghệ hóa dầu thực hiện thử nghiệm ở TP. Hồ Chí Minh

Các chính sách phát triển nhiên liệu sinh học

* Đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 (Quyết định 177/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/11/2007)[2]

- Mục tiêu tổng quát của đề án là nhằm phát triển NLSH thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Đề án cũng đã đưa ra các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, các nhiệm vụ chủ yếu và các giải pháp chính thực hiện đề án.

- Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2010, xây dựng và phát triển được các mô hình sản xuất thử nghiệm và sử dụng nhiên liệu sinh học quy mô 100 nghìn tấn E5 và 50 nghìn tấn B5/năm bảo đảm đáp ứng 0,4% nhu cầu xăng dầu của cả nước. Đến năm 2015, sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 250 nghìn tấn (pha được 5 triệu tấn E5, B5), đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước. Đến năm 2025, Sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 1,8 triệu tấn, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu xăng dầu của cả nước.

- Các nhiệm vụ chủ yếu: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R-D), triển khai sản xuất thử sản phẩm (P) phục vụ phát triển nhiên liệu sinh học; Hình thành và phát triển ngành công nghiệp sản xuất NLSH; Xây dựng tiềm lực phục vụ phát triển nhiên liệu sinh học và Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực NLSH.

- Các giải pháp thực hiện: Đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, khuyến khích thực hiện chuyển giao công nghệ và tạo lập môi trường đầu tư phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học; Tăng cường đầu tư và đa dạng hoá các nguồn vốn để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án; Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển nhiên liệu sinh học; Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật để phát triển nhiên liệu sinh học; Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm về phát triển nhiên liệu sinh học; và Nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển nhiên liệu sinh học.

* Quyết định 5368/QĐ-BCT của Bộ Công thương ngày 6/10/2008 và Quyết định 2696/QĐ-BCT ngày 29/5/2009 về việc phê duyệt danh mục các đề tài, dự án để tuyển chọn để thực hiện trong năm 2009, 2010 nhằm mục đích hiện thực hóa Đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025[3]

Theo Quyết định 5368/QĐ-BCT, có 13 nhiệm vụ về nghiên cứu và phát triển và 3 dự án sản xuất thử nghiệm về nghiên cứu, tuyển chọn các giống cây trồng có năng suất cao làm nguyên liệu sản xuất NLSH, nghiên cứu các công nghệ sản xuất NLSH tiên tiến từ các nguồn nguyên liệu khác nhau; nghiên cứu và đề xuất các chính sách hỗ trợ phát triển NLSH ở Việt Nam; hoàn thiện công nghệ sản xuất E5 từ phối trộn, tồn trữ đến phân phối và thử nghiệm trên diện rộng để đánh giá khả năng thương mại xăng E5. Theo Quyết định 2696/QĐ-BCT, có 4 đề tài nghiên cứu và phát triển và 4 dự án sản xuất thử nghiệm về nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ sản xuất NLSH theo các phương pháp khác nhau, nghiên cứu thiết kế nhà máy sản xuất NLSH, hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm các chất phụ gia cho NLSH.

* Quyết định 1842/QĐ-BNN-LN về phê duyệt Đề án “Nghiên cứu, phát triển và sử dụng sản phẩm cây Cọc rào (Jatropha curcas L.) ở Việt Nam giai đoạn 2008-2015 và tầm nhìn đến 2025”[4]

Mục tiêu của đề án là tạo ra một ngành sản xuất nông nghiệp mới thông qua việc hình thành vùng nguyên liệu gắn với phát triển công nghiệp chế biến dầu diesel sinh học có hiệu quả cao, quy mô ngày càng lớn trên cơ sở sử dụng hiệu quả đất đai ở các vùng hoang hóa, khô cằn, đất trống đồi núi trọc và những nơi canh tác nông nghiệp năng suất thấp, góp phần cải thiện đời sống của người dân ở các vùng khó khăn, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.

* Thông tư liên tịch 147/2009/TTLT-BTC-BCT ngày 21/7/2009 Quy định chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Đề án phát triển nhiên liệu sinh học[5]

Thông tư này quy định chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2025. Thông tư cũng quy định đối tượng được ngân sách nhà nước cấp, hỗ trợ kinh phí cũng như nguồn vốn để thực hiện Đề án phát triển nhiên liệu sinh học. Điều kiện được hỗ trợ kinh phí thực hiện chuyển giao công nghệ để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm, hàng hoá liên quan đến phát triển nhiên liệu sinh học: (i) Công nghệ phù hợp với mục tiêu của Đề án; (ii) Tính khả thi của dự án và (iii) Dự án chưa được hỗ trợ từ bất kỳ nguồn kinh phí nào của ngân sách nhà nước.

Tình hình công tác tiêu chuẩn hoá đối với nhiên liệu sinh học

Để quản lý chất lượng, đáp ứng yêu cầu của nhà sản xuất và người tiêu dùng, Bộ Khoa học Công nghệ đã ban hành hai tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7716:2007 - Etanol nhiên liệu biến tính dùng để trộn với xăng sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ đánh lửa - Yêu cầu kỹ thuật và TCVN 7717:2007 - Nhiên liệu điêzen sinh học gốc (B100) - Yêu cầu kỹ thuật. Bộ Khoa học Công nghệ cũng đã ban hành hai tiêu chuẩn TCVN 8063:2009 - Xăng không chì pha 5% etanol - Yêu cầu kỹ thuật và TCVN 8064:2009 - Nhiên liệu điêzen pha 5% este metyl axit béo - Yêu cầu kỹ thuật để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành việc phân phối xăng E5 và dầu điêzen B5, Để bắt buộc áp dụng các yêu cầu về quản lý chất lượng đối với các loại xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học, QCVN01:2009/BKHCN đã được ban hành theo Thông tư 20/2009/TT – BKHCN ngày 30/9/2009.[6]

Các websites liên quan

www.monre.gov.vn [7]

www.moit.gov.vn [8]

www.most.gov.vn [9]

www.tcvn.gov.vn [10]